Thuyết minh về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo

0

Đề bài: Anh chị hãy thuyết minh về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi.

Đề yêu cầu chúng ta thuyết minh tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo về hai khía cạnh là nội dung và giá trị nghệ thuật. Sau đây, mời các bạn tham khảo một bài viết để có những gợi ý hay cho bài làm của mình nhé!

Thuyết minh về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo

Mở Bài

Trong số những tác phẩm nổi tiếng của tác gia Nguyễn Trãi viết về đề tài chính luận thì thì “Đại cáo bình Ngô” là một áng văn yêu nước của thời đại. Đây là một bản tuyên ngôn độc lập, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, là bản anh hùng ca bất hủ về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bài đại cáo này mang đặc trưng cơ bản của thể cáo nói chung, đồng thời có những sáng tạo riêng của Nguyễn Trãi. Đại cáo bình Ngô xứng đáng là một bản tuyên ngôn độc lập, một áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta.

Thân Bài

Bố cục của bài cáo gồm bốn phần. Phần một nêu lên luận đề chính nghĩa. Ngay từ đầu, tác giả nêu lên những chân lý “nhân nghĩa” và “yên dân – trừ bạo”:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Những chân lý chiếm một vị trí quan trọng, làm chỗ dựa cho việc triển khai ý của toàn bài.

Với Đại cáo bình Ngô, ý thức dân tộc đã có bước phát triển mới. Nếu như Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt chỉ nêu lên vấn đề lãnh thổ và chủ quyền thì Đại cáo bình Ngô lại có thêm các yếu tố về nền văn hiến, phong tục, tạp quán, lịch sử dựng nước, giữ nước và những nhân tài của nước ta.

thuyet-minh-ve-noi-dung-va-nghe-thuat-cua-tac-pham-binh-ngo-dai-cao
Thuyết minh về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo

Bằng những dẫn chứng cụ thể, liệt kê, phép đối và phương pháp so sánh đối lập, Nguyễn Trãi đã làm nổi bật ý thức dân tộc. Tác giã đã cụ thể hóa, khẳng định chân lý “chính nghĩa luôn luôn thắng phi nghĩa”. Bọn Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã kẻ thì bị thất bại, tên thì bị tiêu vong, kẻ bị bắt, bị giết. Đó là điều tất yếu.

Sau luận đề chính nghĩa là phần hai vạch rõ tội ác của giặc Minh. Thứ nhất là vạch trần âm mưu xâm lược nước ta: “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà”. Thứ hai là tố cáo chính sách cai trị tàn ác, dã man của giặc. Chúng làm mọi thứ mà chúng muốn, mặc cho đan đen đau khổ, khốn cùng. Nào là”dối trời lừa dân”, “gây binh kết oán”, “nặng thuế khóa”.Nào là “ép người xuống biển dòng lưng mò ngọc”, “bắt người vào núi đãi cát tìm vàng”, ngán thay nơi rừng sâu nước độc rồi có cá mập, thuồng luồng. Không dừng lại ở đó, chúng còn “vét sản vật”, “nhiễu nhân dân”, kể cả loài vật, cỏ cây chúng còn không tha “tàn hại côn trùng, cây cỏ”. Độc ác nhất có lẽ là:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Bọn chúng quả thật là mất hết tính người, xem những người dân vô tội như xúc vật để chúng mặc tình “nướng”, “vùi” trên những “ngọn lửa hung tàn” hay “dưới hầm tai vạ”. Tình cảnh người dân thật thê lương, tội nghiệp.

Kết thúc bản cáo trạng tội ác giặc Minh là hai câu văn đầy hình tượng:

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch thù

Nguyễn Trãi đã “lấy cái vô hạn để nói cái vô hạn, lấy cái vô cùng để nói cái vô cùng”. Tất cả làm cho chúng ta càng căm phẫn những tội ác mà bọn giặc hung tàn đã gieo rắc cho nhân dân ta. Cuối đoạn hai là một câu hỏi tu từ được đặt ra: “Ai bảo thần nhân chịu được?”. Tác giả đứng trên lập trường của nhân dân, của dân tộc thể hiện thái độ căm phẫn và không đội trời chung với giặc.

Sự nghiệp chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được khẳng định, ca ngợi ở phần ba của bài đại cáo. Đó là một cuộc chiến đầy khó khăn gian khổ và chiến thắng vẻ vang gắn liền với hình tượng người anh hùng Lê Lợi.

Trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, ta gặp rất nhiều khó khăn. Xét về lực lượng thì giặc mạnh ta yếu, lại thiếu người tài: “Tuấn kiệt như sao buổi sớm – Nhân tài như gió mùa thu”, phần lại thiếu thốn vật chất, quân sĩ.

Vậy mà trong cái khó ló cái khôn: “Ta gắng chí khắc phục gian nan”, “nhân dân bốn cõi một nhà”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều”. Tất cả những điều đó đã giúp quân ta chiến thắng. Và đằng sau đó là những nguồn sức mạnh: yếu tố “thiên thời, địa lợi”, là ý chí, tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng. Những sức mạnh ấy là chauw đủ nếu thiếu đi người anh hùng áo vải Lê Lợi với những kế sách, chiến lược tài tình của ông. Ở đây ta thấy được sự thống nhất giữ một người bình thường và một vị lãnh tụ nghĩa quân.

Sau khi dành chiến thắng bước đầu, quan ta tiếp tục phản công và dành nhiều chiến thắng vang dội ở các trận Đông Đô, Ninh Kiều, Chi Lăng, Mã Yên, Lạng Giang, Lê Hoa… Với giọng văn, nhịp điệu thay đổi nhanh, mạnh, gấp gáp, bài cáo đã thể hiện được sự hào hứng, sôi nổi ở các trận đánh và khí thế chiến thắng của ta, cũng như những thất bại thảm hại của giặc. Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều hình tượng phong phú để miêu tả khí thế, sức mạnh chiến đấu của ta – so với sự rộng lớn, kì vĩ của tự nhiên: “đá núi phải mòn”, “nước sông phải cạn”, “sạch không kình ngạc”, “tan tác chim muông”, “trút sạch lá khô”, “phá toang đê vỡ”. Những thất bại của giặc Minh lại được diễn tả bằng những hình tượng: “thây chất đầy đường”, “thây chất thành núi”, “máu troi nước đỏ”, “đầm đìa máu đen”… Cũng bằng những hình tượng tự nhiên, tác giả đã gợi nên khung cảnh chiến trường: “sắc phong vân phải đổi”, “ánh nhật nguyệt phải mờ”. Những hình tượng nghệ thuật đã làm câu văn thêm sức mạnh truyền cảm, tác động vào nhận thức và tình cảm của người đọc.

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bào.

Giặc đã đại bại, ta lại mở đức hiếu sinh, cấp thuyền, ngựa cho chúng về nước. Một lần nữa, tư tưởng nhân nghĩa lại được khẳng định.

Phần bốn cũng là phần cuối của bài Đại cáo bình Ngô. Đó là lời tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa, nền độc lập dân tộc. Nó mở ra một chân trời mới tươi sáng rạng rỡ. Đó là một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc ấm no.

Kiền khôn bỉ rồi lại thái

Nhật nguyện hối rồi lại minh.

Tác giả nêu lên quy luật thịnh suy: bỉ – thái, hối – minh để khẳng định niềm tin và quyết tâm xây dựng đất nước (một triết lý phương Đông sâu sắc). Ở đây, ta bắt gặp một yếu tố tâm linh: “Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy” – khẳng định công lao to lớn của biết bao thế hệ cha ông. Ở phần bốn, ta thấy giọng văn nhẹ nhàng mà khí thế, sâu lắng mà thắm đẫm hồn dân tộc.

Kết Bài

Đại cáo bình Ngô là một áng văn chính luận kiệt xuất. Chính là chính kiến của Nguyễn Trãi luôn sống, phấn đấu vì nhân dân, vì chính nghĩa, mang đậm tư tưởng nhân nghĩa; luận là bàn luận, nghị luận bàn về chính sự, việc quan trọng của đất nước. Giống như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, như Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến hay Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, Đại cáo bình Ngô mang đậm chất của thể cáo, là thể văn hùng biện, lời lẽ đanh thép, lý luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc. Toàn bài cáo là sự thống nhất giữa yếu tố nghệ thuật đặc sắc, được tác giả sử đụng hết sức điêu luyện, kết hợp các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong những dòng văn biền ngẫu. “Đại cáo bình Ngô” đã làm đọng lại trong lòng mỗi người dân Việt sự tự hào dân tộc. Đây sẽ mãi là áng văn chính luận của nghìn đời và cảm ứng anh hùng ca sẽ không bao giờ tắt.


Trên đây là bài văn mẫu thuyết minh tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Hi vọng các bạn sẽ có những gợi ý hay cho bài làm của mình nhé! Chúc các bạn thành công với tác phẩm này!

Chia sẻ: